Xuất Huyết Não

Theo Y Học Hiện Đại:
Chảy máu não ( xuất huyết não) là máu từ hệ thống động mạch, tĩnh mạch não chảy vào tổ chức não, ít nhiều đều tạo thành ổ máu tụ trong não, gây ra các triệu chứng thần kinh tương ứng.
Phân loại xuất huyết não:
– Chảy máu trong nhu mô não.
– Chảy máu nhu mô não – tràn máu não thất.
– Chảy máu dưới màng nhện.
– Chảy máu sau nhồi máu não.

xuất huyết não
hình ảnh xuất huyết não

Theo Y Học Cổ Truyền:
Nguyên nhân:
Bệnh phát sinh nguyên nhân chủ yếu do rối loạn chức năng tạng phủ âm dương. Khí huyết thăng giáng thất thường, kết hợp với rối loạn tình chí. Ăn nhiều đồ cay béo ngọt, lao động quá sức, sinh hoạt tình dục quá độ gây nên.
– Rối loạn tình chí: can liên quan đến tình chí là cáu giận, can chủ thăng, cáu giận làm can khí thượng nghịch, can dương bạo cang, huyết thuận theo khí nghịch, đưa lên trên gây nên bệnh. Bẩm tố âm hư, thủy không hàm mộc, khi gặp cáu giận làm cho dương thăng không khống chế được, huyết khí thượng nghịch gây nên trúng phong.
Ăn uống không điều độ, ăn nhiều chất béo ngọt cay gây tổn thương tỳ vị, rối loạn chức năng kiện vận nên tân dịch nội đình, tụ thấp sinh đàm, đàm uất hóa nhiệt, nhiệt uất làm động phong, phong kết hợp với đàm hỏa đưa lên trên gây nên bệnh
Lao động quá sức làm âm huyết hoa thoát, hư dương hóa phong. Kết hợp với nuôi dưỡng kém, sinh hoạt tình dục quá độ, làm thận tinh hao tổn, thủy hao phía dưới, hỏa vượng phía trên gây nên bệnh.
Đàm ẩm huyết ứ: rối loạn chức năng tạng phủ khí huyết hình thành các sản phẩm bệnh lý. Đàm ẩm và huyết ứ lại là nhân tố mới gây nên bệnh. Tỳ không kiện vận, tụ thấp sinh đàm, phế không tuyên giáng, rối loạn thông điều thủy đạo, tân dịch đình tù thành đàm. Thận dương hư suy, không trưng đốt tân dịch hoặc tam tiêu rối loạn khí hóa làm tụ thủy thành đàm. Sau khi đàm ứ hình thành có thể uất hóa nhiệt, có thể thuận theo khí thượng nghịch, kết hợp với phong gây nên bệnh.
Triệu chứng lâm sàng chung của bệnh tai biến do xuất huyết não:
– Bệnh khởi phát đột ngột, triệu chứng hay gặp là đau đầu, buồn nôn, liệt nửa người, rối loạn ý thức. Đa số bệnh nhân có tăng huyết áp sớm. Các triệu chứng thường diễn biến nhanh và đạt tối đa sau 30 phút đến vài giờ.
– Giai đoạn toàn phát có thể gặp:
+ Rối loạn ý thức.
+ Tổn thương thần kinh sọ não; hay gặp liệt dây VII, với chảy máu thân não có thể gặp hội chứng giao bên.
+ Vận động: liệt nửa người bên tổn thwong.
+ Cảm giác: rối loạn cảm giác nửa người bên đối diện tổn thương.
+ Rối loạn cơ vòng: đái dầm cách hồi, bí đại tiện.
+ Rối loạn thần kinh thực vật: gặp ở bệnh nhân tổn thương nặng, nhất là chảy máu thân não. Biểu hiện: tăng huyết áp, rối loạn nhịp thở, tăng tiết đờm dãi, tăng thân nhiệt sớm…
+ Đồng tử; tổn thương trực tiếp hoặc gián tiếp đến thân não có thể gây giãn đồng tử bên đối diện.
+ Hội chứng màng não; thường gặp ở bệnh nhân ổ máu tụ phá thông vào não thất. Khoang dưới nhện hoặc ổ máu tụ hố sọ sau.
+ Tim mạch: tăng huyết áp sớm.
+ Hô hấp; rối loạn ý thức thường bị rối loạn phản xạ ho gây ùn tắc đờm dãi. Nếu nặng gây ức chế trung khu hô hấp gây rối loạn nhịp thở, suy hô hấp.
Cơ chế bệnh sinh theo y học cổ truyền:
– Can dương vong động, nội phong bạo cang: can là tạng cương, chủ thăng chủ động. Can khí dễ cang dễ nghịch. Nếu do cáu giận quá mức đều có thể gây nên can dương vong động, nội phong bạo cang. Can chủ tàng huyết, rối loạn chức năng làm huyết thuận theo khí nghịch, trực trúng phạm não, trệ cách thanh khiếu gây nên bệnh.
– Tình chí hư suy, hư phong nội chuyển: thận nguyên bất cố, chân khí hao tán, nguyên khí hư suy; hoặc thận âm bất túc, thủy không hàm mộc, tâm huyết hao tổn, huyết không dưỡng can, âm dương rối loạn gây nên hư phong nội chuyển, khí huyết thượng nghịch, dương khí phù vượt bế trệ não khiếu, rối loạn thần minh gây nên bệnh.
– Ngũ chí hóa hỏa, phong hỏa tương kiêm: ngũ chí quá cực làm rối loạn chức năng của tạng phủ khí huyết, làm cho khí cơ uất kết, theo dương hóa nhiệt, nhiệt cực làm hóa hỏa sinh phong, gây nên tâm hỏa bạo thịnh, can dương bạo cang, phong hỏa tương kiêm, hỏa thịnh thủy suy, âm hư không khống chế dương, khí huyết phong hỏa đưa lên trên, tâm thần rối loạn gây nên bệnh.
– Đàm trọc nội ủng, hóa nhiệt sinh phong: rối loạn kiện vận của tỳ, tụ thấp sinh đàm, đàm trọc nội ủng, uất lâu hóa nhiệt, động phong lên trên, huyết thuận khí nghịch gây nên bệnh. Hoặc do bẩm tố can vượng, dương nhiệt thiên thịnh, hun đốt tân dịch thành đàm làm đàm hỏa nội sinh, hỏa động đàm thăng, can phong hiệp đàm hỏa đưa lên trên bưng bít thanh khiếu, hoành nghịch kinh lạc, thần minh vô chủ làm đột ngột hôn mê gây nên bệnh.
– Huyết ứ nội trệ, tân huyết không sinh: huyết lý kinh là huyết ứ, do xuất huyết não làm huyết ứ trệ ở não tủy, rối loạn phủ nguyên thần; hơn nữa, tân huyết không sinh, hư phong nội động đều là nguyên nhân bệnh sinh của bệnh.
– Chính khí hư suy, âm kiệt dương vong: cùng với tiến triển của bệnh, can phong đàm hỏa tích thịnh, chính khí dần dần hư thoát cuối cùng làm cho âm kiệt dương vong, âm dương lý tán gây nên bệnh.
Khi phát bệnh thì xu thế của phong, hỏa, đàm trọc rất mạnh và nhanh, dương khí bị tà bế, nếu nặng thì ngoại thoát nên không điều trị kịp thời thường bị tử vong.
Kết hợp với tuổi cao khí suy, tinh thần kích động, thể trạng béo bệu, đàm trọc thấp thịnh, ăn nhiều đồ béo ngọt, uống bia rượu nhiều… là các nhân tố thuận lợi gây nên bệnh.
Phân thể điều trị:
1. Can dương bạo cang, phong hỏa hiệp đàm, bưng bít thanh khiếu (dương bế):
– Lâm sàng; Đau đầu dữ dội, buồn nôn và nôn, hôn mê gây liệt nửa người, răng nghiến chặt, môi mím, hai tay nắm chặt, chân co quắp, mặt đỏ bừng, người nóng, tiếng thở thô, miệng hôi, vật vã kích thích, đại tiểu tiện bí, chất lưỡi hồng bóng, rêu lưỡi vàng nhớp và khô, mạch hoạt sác hay hồng đại.
– Pháp điều trị: tân lương khai khiếu, thanh can tức phong
– Phương thuốc; cấp cứu dùng An cung ngưu hoàng hoàn. Ngưu hoàng thanh tâm hoàn hòa nước bơm qua mũi hoặc sond dạ dày
Phối hợp Linh dương giác thang gia vị:

Linh dương giác  05g  Quy bản 30g Sinh địa 15g
Đan bì 12g Sài hồ 12g Bạch thược   15g
Thạch xương bồ 12g Cúc hoa  12g  Uất kim 12g
Hạ khô thảo 12g Trúc nhự 10g Hoàng liên 10g

Các vị thuốc trên sắc uống.
Đại tiện bí gia đại hoàng 5-10g.
Bí tiểu tiện gia trư linh 12g,              xa tiền tử 15g
2. Đàm thấp trệ lạc, bưng bít tâm thần (âm bế):
– Lâm sàng: Đau đầu dữ dội, buồn nôn và nôn, sắc mặt trắng bệch, hôn mê gây liệt nửa người, răng nghiến chặt, môi mím, hai tay nắm chặt, chân co quắp, nằm yên, chân tay không ấm, đờm dãi chảy nhiều, thở thô, bí đại tiểu tiện, chất lưỡi tím nhợt, rêu lưỡi trắng nhớp, mạch trầm hoạt
– Pháp điều trị: tân ôn khai khiếu, ngoan đàm tức phong
Cấp cứu dùng Tô hợp hương hoàn hòa tan bơm qua sond dạ dày.
Phối hợp dùng Địch đàm thang gia vị

Bán hạ 10g Trần bì 10g Đởm nam tinh 10g Chỉ thực 12g
Bạch linh 30g trúc nhự 10g Nhân sâm 6g Thạch xương bồ 12g
Nhục quế 6g Đại hoàng 6g Uất kim 12 Xa tiền tử 12g

Các vị thuốc trên sắc uống.
Nếu tiểu tiện dầm dề thì bỏ xa tiền tử, gia ích trí nhân 12g. Phúc bồn tử 12g, ô dược 12g để bổ thận nạp khí.
Có thể gia câu đằng 30g,   thiên ma 12g để bình can tức phong
Nếu chân tay co quắp gia toàn yết 8g, ngô công 3 con để tức phong chỉ kinh.
3. Nguyên khí bại thoát, tâm thần tán loạn (thoát chứng):
– Lâm sàng: Đột nhiên hôn mế, buồn nôn và nôn, chân ta duỗi mềm, chân tay lạnh, ra mồ hôi lạnh nhiều, hơi thở yếu, đại tiểu tiện không tự chủ, chất lưỡi ám tím, rêu lưỡi trơn, mạch vi nhược.
– Pháp điều trị: phù chính cố thoát, ích khí cố dương.
– Bài thuốc: Sâm phụ thang
Nhân sâm 10g.                    Phụ tử chế 12g
Nếu mồ hôi ra nhiều thì gia hoàng kỳ 15g. Sinh mẫu lệ 15g,   ngũ vị tử 10g để liễm hãn cố thoát.
Sau khi đã hồi dương, nếu bệnh nhân thấy mặt hồng, tay chân lạnh, bứt rứt, mạch vi nhược là do chân âm bị tổn thương. Dương không trợ âm gây chứng hư dương thượng phù, dục thoát. Lúc này nên dùng pháp tư dương chân âm, ôn bổ thận dương để hồi dương cố thoát. Bài thuốc dùng Địa hoàng ẩm tử thang gia vị;

Thục địa 20g Ba kích 12g Sơn thù 10g Thạch hộc 12g
Nhục thung dung 10g Chế phụ tử 10g Nhục quế 6g Ngũ vị tử 10g
Mạch môn 12g Nhân sâm 10g thạch xương bồ 12g Viễn chí 10g
Sinh khương 10g Đại táo 5 quả

Các vị thuốc trên sắc uống.
3. Các biện pháp điều trị khác:
 Châm:
– Bế chứng
Pháp châm: thăng dương khai khiếu, thanh nhiệt tỉnh não
Phương huyệt: nhân trung, bách hội, nội quan, túc tam lý
Nếu đờm nhiều thì châm tả thêm phong long.
– Thoát chứng
Pháp châm: hồi dương cố thoát
Phương huyệt: nhân trung, nội quan, túc tam lý, quan nguyên
Mồ hôi ra nhiều thì châm bổ tam âm giao.
 Nhĩ châm:
Điểm tuyến thượng thận, điểm dưới vỏ, điểm tâm để đạt tác dụng cường tâm thăng áp.
Cấy Chỉ:
Là dùng chỉ tự tiêu đưa vào các huyệt vị trên cơ thể. Tùy loại chỉ sau 15-20 ngày hay 2 -3 tháng sẽ tiêu hoàn toàn.
 Hiện nay bệnh lý tai biến mạch máu não ( xuất huyết não) phát triển rất là nhiều và phổ biến không loại trừ một ai người già hay trẻ, người giàu hay nhà nghèo…
Sau khi bị tai biến mạch máu não do xuất huyết não bệnh nhân được cấp cứu ổn định xuất viện về nhà. Thi tập vật lý trị liệu sau tai biến là phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất cho bệnh nhân, phòng ngừa không bị co cứng, rút gân, teo cơ và cứng khớp. Việc tập vật lý trị liệu nhằm mục đích lưu thông tuần hoàn máu ngừa không lở loét do nằm lâu…
Tai biến thường có 2 dạng liệt: Liệt Cứng và Liệt Mềm.
+ Liệt cứng; liệt bị co rút toàn bộ người bên liệt, gồng cơ, rút gân, để lâu thường bị cứng khớp…
+ Liệt mềm; bệnh hay bị xệ các ổ khớp nên khị bị liệt mềm bệnh nhân nên đeo nẹp khớp vai cố định để khộng xệ khớp vai nhiều…
Việc hỗ trợ điều trị phục hồi bằng các phương pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng. Sau các cơn tai biến mạch máu não ( xuất huyết não) thường được quan tâm lên hàng đầu. Qúa trình phục hồi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như mức độ liệt, sức khỏe người bệnh. Ở những người trẻ thì tiến trình hồi phục sẽ nhanh hơn so với những bệnh nhân lớn tuổi.
Xoa bóp bấm huyệt và tập luyện phục hồi sau xuất huyết não:
Có công dụng thúc đẩy khí huyết vận hành; điều hòa kinh mạch và công năng các tạng phủ rất có lợi cho sự phục hồi chức năng của chi có thể bị liệt.
Tập vật lý trị liệu giúp người bệnh hồi phục chức năng vận động, duy trì lực của cơ và lưu thông máu huyết. Bệnh nhân cần tập bên bị liệt, đồng thời được khuyến khích tập bên còn khỏe duy trì lực cơ. Nếu không duy trì vận động, bệnh nhân sẽ dễ bị cứng khớp.
Khi tập bệnh nhân phải có sự hướng dẫn hỗ trợ của kỹ thuật viên hoặc người nhà. Tùy vào thể trạng bệnh lý sức khỏe để tập từng bài tập thích hợp…
Bệnh nhân không tự ý tập một mình khi đang còn yếu. Không tự ý đi lại khi chưa giữ được thăng bằng sẽ bị té ngã..
Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc thì chế độ chăm sóc và rèn luyện của bệnh nhân cũng là yếu tố quan trọng trong quá trình hồi phục. Người chăm sóc và người nhà cần chú trọng đến chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Bổ sung các chất đạm từ cá, thịt, các chất bột đường, rau quả trái cây, đồng thời hạn chế chất béo, chất ngọt. Thực hiện và duy trì lối sống lành mạnh, có khoa học, tập thể dục đều đặn và đặc biệt là hạn chế hoặc loại bỏ chất kích thích, gây nghiện.
Quá trình chữa trị bệnh tai biến mạch máu não ( xuất huyết não) quan trọng nhất là giai đoạn cấp cứu và giai đoạn phục hồi bệnh. Đây là giai đoạn đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực từ phía cả bệnh nhân và người nhà. Người bệnh rất cần sự hỗ trợ của người thân, người chăm sóc trong quá trình điều trị để sớm hoàn thành sự hồi phục.
  Hiện nay phòng khám Đông y SINH LONG ĐƯỜNG Chữa Bệnh Nam Nữ Khoa đã và đang điều trị cho hàng nghìn bệnh nhân đạt kết quả cao. Bệnh nhân có thể tự đi lại và phục vị sinh hoạt cá nhân.

 

Bệnh nhân bị xuất huyết não.

Bệnh Nhân Kể Lại quá trình bị bệnh và phục hồi sau tai biến do xuất huyết não.

Bệnh Nhân Bị Tai Biến Lần 2 do xuất huyết não.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *